Ngành Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh: Kiến tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới

Đăng ngày: 07/11/2026 , 14:03 GMT+7

Trong tiến trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp công nghệ cao, ngành Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh đang từng bước khẳng định vai trò kiến tạo thông qua đổi mới phương thức quản lý, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại. Từ khơi thông nguồn lực đất đai, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, thúc đẩy công nghiệp sinh học đến nâng cao chất lượng môi trường và phát triển nông nghiệp xanh, những chuyển động của ngành đang góp phần xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi, tạo nền tảng cho doanh nghiệp phát triển và nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

Đổi mới để mở đường cho tăng trưởng bền vững

Bắc Ninh – địa phương đang hướng tới trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ và logistics quan trọng của vùng Thủ đô – yêu cầu đặt ra đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường là phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo, phục vụ và đồng hành cùng doanh nghiệp.

Nhận thức rõ yêu cầu đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh đang tập trung đổi mới đồng bộ các lĩnh vực quản lý, lấy cải cách hành chính và chuyển đổi số làm một trong những khâu đột phá. Trong đó, việc triển khai hệ thống thủ tục hành chính mới về đất đai được xem là bước tiến quan trọng nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, quy trình và thời gian xử lý hồ sơ.

Ngành Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh đang tập trung đổi mới đồng bộ các lĩnh vực quản lý, lấy cải cách hành chính và chuyển đổi số làm một trong những khâu đột phá

Theo Quyết định số 1922/QĐ-UBND ngày 13/7/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh, Bắc Ninh công bố 49 thủ tục hành chính mới và bãi bỏ 46 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi quản lý của Sở Nông nghiệp và Môi trường. Các thủ tục được phân định theo thẩm quyền, gồm 10 thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh và Sở; 22 thủ tục thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai và các chi nhánh; 17 thủ tục thuộc UBND cấp xã, phường.

Cùng với đó, các Quyết định số 33/2026/QĐ-UBND ngày 19/5/2026 và số 52/2026/QĐ-UBND ngày 9/7/2026 của UBND tỉnh đã cụ thể hóa trình tự, thủ tục hành chính về đất đai, bảo đảm phù hợp với Luật Đất đai năm 2024 và các quy định liên quan.

Điểm đáng chú ý là quy trình giải quyết thủ tục được chuẩn hóa, trách nhiệm của từng cơ quan được xác định rõ hơn, đồng thời hệ thống quy trình điện tử được xây dựng, cập nhật trên nền tảng VBDLIS, kết nối với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh và Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Việc chuẩn hóa 49 thủ tục mới, đồng thời bãi bỏ 46 thủ tục không còn phù hợp, không đơn thuần là sự thay đổi về danh mục hành chính. Quan trọng hơn, đây là bước chuyển trong phương thức phục vụ, góp phần giảm sự chồng chéo, tăng tính minh bạch và tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp chủ động theo dõi tiến độ giải quyết hồ sơ.

Không dừng lại ở cải cách quy trình, Sở Nông nghiệp và Môi trường còn triển khai tự đánh giá Chỉ số cải cách hành chính, tổ chức điều tra xã hội học và khảo sát mức độ hài lòng của người dân, tổ chức. Đây là cách tiếp cận lấy phản hồi của đối tượng phục vụ làm căn cứ đánh giá chất lượng hoạt động công vụ, qua đó nhận diện những hạn chế để tiếp tục cải thiện.

Nếu cải cách hành chính tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư thì khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là động lực nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, giai đoạn 2026-2030, Bắc Ninh định hướng xây dựng phương thức quản lý và sản xuất hiện đại, trong đó dữ liệu là nền tảng, công nghệ là động lực, đổi mới sáng tạo là phương thức và người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp là chủ thể.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là số hóa cơ sở dữ liệu về diện tích, cơ cấu cây trồng, giống, vùng sản xuất, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, sản lượng, chất lượng nông sản và tình hình sinh vật gây hại. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, cập nhật thường xuyên, cơ quan quản lý có thể nâng cao năng lực dự báo, giám sát sản xuất và chủ động hơn trong công tác điều hành.

Cùng với đó, các công nghệ mới như Internet vạn vật (IoT),cảm biến, hệ thống thông tin địa lý (GIS),viễn thám, thiết bị bay không người lái và trí tuệ nhân tạo (AI) được định hướng ứng dụng trong quản lý sản xuất. Từ theo dõi độ ẩm đất, điều kiện thời tiết, tình trạng sinh trưởng cây trồng đến phát hiện sớm sinh vật gây hại, công nghệ giúp quá trình sản xuất chính xác hơn, giảm lãng phí vật tư, tiết kiệm nước và hạn chế sử dụng hóa chất không cần thiết.

Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ trong bảo vệ thực vật sẽ góp phần chuyển từ phòng trừ bị động sang chủ động giám sát, cảnh báo sớm và quản lý nguy cơ. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng nông sản.

Trong giai đoạn 2026-2030, Bắc Ninh định hướng đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp; chú trọng phát triển công nghệ sinh học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu. Đây được xem là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao giá trị sản xuất, giảm phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu gắn với doanh nghiệp

Một trong những điểm nghẽn của nông nghiệp hiện nay là sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ, thiếu liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp. Điều này làm gia tăng chi phí thu mua, sơ chế, bảo quản, khó kiểm soát chất lượng đồng đều và hạn chế khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn.

Để giải quyết vấn đề này, Bắc Ninh đang triển khai Đề án phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030 theo Quyết định số 3411/QĐ-BNNMT ngày 24/8/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

UBND tỉnh yêu cầu các địa phương rà soát, lựa chọn những cây trồng, vật nuôi và thủy sản chủ lực có lợi thế cạnh tranh, có quy mô sản xuất tập trung và đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, xuất khẩu. Trong đó, vải thiều phục vụ xuất khẩu, gà đồi và gia cầm an toàn được xác định là những sản phẩm cần quan tâm phát triển.

Đối với Bắc Ninh, phát triển nông nghiệp công nghệ cao không thể tách rời yêu cầu kiểm soát ô nhiễm, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm chất lượng môi trường sống

Đáng chú ý, việc lựa chọn vùng nguyên liệu không chỉ căn cứ vào diện tích và sản lượng mà còn phải đánh giá hiện trạng hạ tầng, điểm nghẽn sản xuất, nhu cầu đầu tư, nguồn vốn đối ứng, phương án tổ chức sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt, hồ sơ đề xuất dự án phải làm rõ phương án liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển biến từ tư duy hỗ trợ sản xuất đơn lẻ sang tổ chức phát triển vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị. Doanh nghiệp được khuyến khích tham gia từ khâu xác định nhu cầu, lựa chọn vùng sản xuất, thống nhất quy trình kỹ thuật đến thu mua, chế biến và tiêu thụ.

Song song với đó, tỉnh đẩy mạnh số hóa vùng nguyên liệu, lập bản đồ số, cấp và quản lý mã số vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói; xây dựng cơ sở dữ liệu cập nhật định kỳ và kết nối với nền tảng dữ liệu số của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Thực tế phát triển cây ăn quả cho thấy tiềm năng của hướng đi này. Năm 2026, diện tích cam, bưởi, táo và ổi trên địa bàn thành phố Bắc Ninh ước đạt khoảng 11.650 ha, sản lượng khoảng 118.525 tấn, tăng 18,7% so với năm 2025.

Trong đó, bưởi có diện tích khoảng 5.200 ha, sản lượng ước 47.000 tấn; cam 2.500 ha, sản lượng 27.600 tấn; táo 2.900 ha, sản lượng 35.090 tấn; ổi 1.050 ha, sản lượng 8.835 tấn. Đáng chú ý, diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đối với bưởi đạt khoảng 3.660 ha, cam 1.700 ha, táo 1.500 ha và ổi 800 ha.

Tính đến ngày 16/10/2026, toàn thành phố duy trì 91 mã số vùng trồng với tổng diện tích 1.764,9 ha, trong đó có 80 mã số phục vụ xuất khẩu, diện tích 1.676,2 ha.

Những con số này phản ánh nỗ lực chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang sản xuất hàng hóa có tiêu chuẩn, có kiểm soát chất lượng và có khả năng kết nối thị trường. Việc phát triển mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào hoạt động thu mua, chế biến và xuất khẩu nông sản.

Đối với Bắc Ninh, phát triển nông nghiệp công nghệ cao không thể tách rời yêu cầu kiểm soát ô nhiễm, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm chất lượng môi trường sống. Vì vậy, vai trò của ngành Nông nghiệp và Môi trường không chỉ là quản lý tài nguyên, kiểm tra việc chấp hành quy định mà còn phải chủ động kiến tạo nền tảng cho mô hình phát triển xanh.

Một trong những nội dung quan trọng là triển khai Kế hoạch thực hiện Đề án nâng cao hiệu quả thực thi Hiệp định SPS của WTO và các cam kết SPS trong các hiệp định thương mại tự do giai đoạn 2026-2030.

Theo kế hoạch, Bắc Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 100% vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói và cơ sở sản xuất, chế biến phục vụ xuất khẩu thuộc diện quản lý được lập, cập nhật hồ sơ điện tử và có khả năng truy xuất nguồn gốc.

Đồng thời, 100% cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ SPS có đầu mối phụ trách và quy trình phối hợp rõ ràng; 100% cán bộ quản lý an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật và thực vật được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn hằng năm.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác xã là mắt xích quan trọng kết nối người sản xuất với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều hợp tác xã vẫn gặp khó khăn về năng lực quản trị, vốn, công nghệ, thị trường và khả năng tổ chức sản xuất quy mô lớn.

Vì vậy, việc tổ chức Hội nghị gặp mặt, đối thoại với các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã theo Kế hoạch số 363/KH-UBND ngày 3/10/2026 có ý nghĩa thiết thực. Với khoảng 300 đại biểu dự kiến tham gia, hội nghị tạo diễn đàn để các cơ quan quản lý trực tiếp lắng nghe kiến nghị, trao đổi và phối hợp tháo gỡ khó khăn cho khu vực kinh tế tập thể.

Thông qua đối thoại, những vấn đề liên quan đến cơ chế hỗ trợ, tiếp cận nguồn vốn, đất đai, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và ứng dụng công nghệ sẽ được tổng hợp, phân loại để giải quyết theo thẩm quyền.

Có thể khẳng định, những chuyển động của ngành Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh đang phản ánh một yêu cầu lớn hơn của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng: quản lý tốt tài nguyên phải đi đôi với khai thác hiệu quả nguồn lực; cải cách hành chính phải gắn với nâng cao chất lượng phục vụ; phát triển nông nghiệp phải gắn với doanh nghiệp, thị trường và công nghệ; tăng trưởng công nghiệp phải đặt trong khuôn khổ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Trong hành trình xây dựng Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ và logistics hiện đại, ngành Nông nghiệp và Môi trường không chỉ giữ vai trò bảo đảm quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường mà còn là một trong những chủ thể kiến tạo không gian phát triển mới. Với tư duy đổi mới, phương thức quản lý hiện đại và tinh thần đồng hành cùng doanh nghiệp, ngành đang góp phần chuyển hóa tiềm năng đất đai, tài nguyên, khoa học công nghệ và lợi thế sản xuất thành động lực tăng trưởng thực chất.

Đó cũng là nền tảng để Bắc Ninh không chỉ thu hút thêm các dự án đầu tư mà còn hướng tới thu hút dòng vốn có chất lượng, hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường; tạo dựng một nền kinh tế xanh, tuần hoàn, hiện đại và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

 Tuấn Thành

Đăng ngày: 07/11/2026 , 14:03 GMT+7

Tin liên quan

Tin Khác